Bổ ngữ khả năng (V得/不 + kết quả)
Giải thích
Tiếng Trung tách khả năng ra khỏi động từ bằng cách chèn 得 (làm được) hoặc 不 (không làm được) vào giữa động từ và bổ ngữ kết quả: 看懂 thành 看得懂 hoặc 看不懂, 听见 thành 听得见 hoặc 听不见.
Tiếng Việt diễn đạt ý này bằng từ được đặt sau cụm động từ: đọc hiểu được, nghe không rõ. Vì vậy người Việt hay ghép 能 hoặc 可以 vào trước động từ rồi giữ nguyên bổ ngữ kết quả. Cách đó không sai tuyệt đối nhưng người Trung Quốc rất ít nói vậy, đặc biệt ở dạng phủ định: câu tự nhiên là 看不懂 chứ không phải 不能看懂.
Dạng phủ định 看不懂 dùng nhiều hơn dạng khẳng định rất nhiều. Dạng khẳng định 看得懂 chủ yếu xuất hiện trong câu hỏi (你看得懂吗) hoặc khi trả lời để đối lập với dạng phủ định.
Bổ ngữ khả năng không nhận phó từ mức độ. Không nói 很, 非常 trước hay sau nó.
Câu ví dụ
Lỗi người Việt hay mắc
Tiếng Việt nói không thể hiểu được nên người Việt ghép 不能 vào trước động từ. Tiếng Trung phủ định khả năng đạt được kết quả thì chèn 不 vào giữa động từ và bổ ngữ.
Đặt 不 sai chỗ. 不 phải nằm giữa động từ và bổ ngữ kết quả, không đặt trước động từ.
Bổ ngữ khả năng không đi với 很, 非常. Thấy chữ 得 là người Việt tưởng giống 跑得很快 nên thêm 很.