Bổ ngữ khả năng (V得/不 + kết quả)

HSK 4 bổ ngữ
Động từ + 得/不 + bổ ngữ kết quả (hoặc xu hướng) + tân ngữ
Tóm tắt: Chen 得 hoặc 不 vào giữa động từ và bổ ngữ kết quả/xu hướng để nói có làm được hay không làm được việc đó.

Giải thích

Tiếng Trung tách khả năng ra khỏi động từ bằng cách chèn 得 (làm được) hoặc 不 (không làm được) vào giữa động từ và bổ ngữ kết quả: 看懂 thành 看得懂 hoặc 看不懂, 听见 thành 听得见 hoặc 听不见.

Tiếng Việt diễn đạt ý này bằng từ được đặt sau cụm động từ: đọc hiểu được, nghe không rõ. Vì vậy người Việt hay ghép 能 hoặc 可以 vào trước động từ rồi giữ nguyên bổ ngữ kết quả. Cách đó không sai tuyệt đối nhưng người Trung Quốc rất ít nói vậy, đặc biệt ở dạng phủ định: câu tự nhiên là 看不懂 chứ không phải 不能看懂.

Dạng phủ định 看不懂 dùng nhiều hơn dạng khẳng định rất nhiều. Dạng khẳng định 看得懂 chủ yếu xuất hiện trong câu hỏi (你看得懂吗) hoặc khi trả lời để đối lập với dạng phủ định.

Bổ ngữ khả năng không nhận phó từ mức độ. Không nói 很, 非常 trước hay sau nó.

Câu ví dụ

这本书太难了,我看不懂。
Zhè běn shū tài nán le, wǒ kàn bu dǒng.
Quyển sách này khó quá, tôi đọc không hiểu.
→ 看不懂 chứ không phải 不能看懂.
老师说得太快,我听不清楚。
Lǎoshī shuō de tài kuài, wǒ tīng bu qīngchu.
Cô giáo nói nhanh quá, tôi nghe không rõ.
这么多菜,我们吃得完吗?
Zhème duō cài, wǒmen chī de wán ma?
Nhiều món thế này, chúng ta ăn hết nổi không?
→ Dạng khẳng định hay dùng trong câu hỏi.
声音太小了,后面的人听不见。
Shēngyīn tài xiǎo le, hòumiàn de rén tīng bu jiàn.
Tiếng nhỏ quá, người ngồi sau nghe không thấy.

Lỗi người Việt hay mắc

Sai我不能看懂这本书。
Đúng我看不懂这本书。

Tiếng Việt nói không thể hiểu được nên người Việt ghép 不能 vào trước động từ. Tiếng Trung phủ định khả năng đạt được kết quả thì chèn 不 vào giữa động từ và bổ ngữ.

Sai这个字我不看得清楚。
Đúng这个字我看不清楚。

Đặt 不 sai chỗ. 不 phải nằm giữa động từ và bổ ngữ kết quả, không đặt trước động từ.

Sai我看得很懂。
Đúng我看得懂。

Bổ ngữ khả năng không đi với 很, 非常. Thấy chữ 得 là người Việt tưởng giống 跑得很快 nên thêm 很.

⚠️ Lưu ý: Nhớ quy tắc ngược với tiếng Việt: khả năng nằm ở giữa cụm động từ, không nằm trước cụm động từ.

Từ vựng liên quan