Phân biệt 得 bổ ngữ khả năng và 得 bổ ngữ mức độ

HSK 4 bổ ngữso sánh
Khả năng: V + 得 + kết quả (không thêm 很) — Mức độ: V + 得 + 很/非常 + tính từ
Tóm tắt: Cùng một chữ 得 nhưng 看得懂 là có khả năng, còn 跑得很快 là mức độ; hai loại phủ định khác nhau hoàn toàn.

Giải thích

Đây là chỗ người Việt sai nhiều nhất ở HSK 4, vì cả hai đều viết bằng chữ 得 và khi dịch sang tiếng Việt đều ra chữ được hoặc rất.

Nhận diện qua thành phần đứng sau 得. Nếu sau 得 là một động từ hoặc tính từ chỉ kết quả (懂, 见, 完, 到, 清楚) thì đó là bổ ngữ khả năng, đọc nhẹ, phủ định bằng cách đổi 得 thành 不: 看得懂 thành 看不懂. Nếu sau 得 là một cụm miêu tả có 很, 非常, 太 thì đó là bổ ngữ mức độ, phủ định bằng cách thêm 不 sau 得: 跑得很快 thành 跑得不快.

Hai kiểu phủ định này không được đổi cho nhau. Muốn nói không nhìn rõ được thì phải nói 看不清楚; nói 看得不清楚 là đang miêu tả cách nhìn chứ không nói về khả năng, nghe rất gượng.

Mẹo phân biệt nhanh: bổ ngữ khả năng không bao giờ có 很; bổ ngữ mức độ hầu như luôn cần một phó từ mức độ.

Câu ví dụ

他跑得很快,我追不上。
Tā pǎo de hěn kuài, wǒ zhuī bu shàng.
Anh ấy chạy rất nhanh, tôi đuổi không kịp.
→ Một câu có cả hai loại: 跑得很快 là mức độ, 追不上 là khả năng.
这个字写得很好看。
Zhège zì xiě de hěn hǎokàn.
Chữ này viết rất đẹp.
黑板上的字我看得见。
Hēibǎn shàng de zì wǒ kàn de jiàn.
Chữ trên bảng tôi nhìn thấy được.

Lỗi người Việt hay mắc

Sai我听得很懂。
Đúng我听得懂。

懂 là bổ ngữ kết quả, không nhận 很. Muốn khen nghe rõ thì nói 我听得很清楚 với nghĩa mức độ.

Sai他跑不快,所以来晚了。
Đúng他跑得不快,所以来晚了。

Muốn miêu tả chạy không nhanh thì phủ định bổ ngữ mức độ là 跑得不快. 跑不快 là không chạy nhanh nổi, nói về khả năng.

⚠️ Lưu ý: Cứ thấy 很 đi cùng 得 thì đó là mức độ; thấy 得 nối thẳng vào 懂, 见, 完, 到 thì đó là khả năng.

Từ vựng liên quan