Phân biệt 的, 得, 地
định ngữ + 的 + danh từ ; động từ + 得 + tính từ ; trạng ngữ + 地 + động từ
Tóm tắt: 的 nối định ngữ với danh từ, 得 nối động từ với bổ ngữ trình độ, 地 nối trạng ngữ với động từ.
Giải thích
Ba chữ này đều đọc là de nên chỉ phân biệt được khi viết. Cách nhớ theo cái đứng sau: sau 的 là danh từ (我的书), sau 得 là lời nhận xét về động tác (跑得很快), sau 地 là động từ (认真地学习).
Tiếng Việt không có gì tương ứng nên không có chỗ dựa; người Việt viết theo âm và gần như luôn viết thành 的. Đây là lỗi chính tả ngữ pháp phổ biến nhất ở HSK 3.
Một điểm khó thêm: khi động từ có tân ngữ mà muốn thêm bổ ngữ trình độ, phải lặp lại động từ hoặc đưa tân ngữ lên trước. 他说汉语说得很好 hoặc 他汉语说得很好, không nói 他说汉语得很好.
Câu ví dụ
这是我的书。
Zhè shì wǒ de shū.
Đây là sách của tôi.
他跑得很快。
Tā pǎo de hěn kuài.
Anh ấy chạy rất nhanh.
他认真地听老师讲课。
Tā rènzhēn de tīng lǎoshī jiǎngkè.
Anh ấy chăm chú nghe thầy giảng bài.
你说得太快了,我没听懂。
Nǐ shuō de tài kuài le, wǒ méi tīngdǒng.
Bạn nói nhanh quá, tôi nghe không hiểu.
Lỗi người Việt hay mắc
Sai他跑的很快。
Đúng他跑得很快。
Nhận xét về động tác thì dùng 得. Vì cả ba chữ đọc giống nhau nên người Việt viết theo thói quen thành 的.
Sai他很认真的学习。
Đúng他很认真地学习。
Đứng trước động từ để tả cách thức thì dùng 地.
Sai他说汉语得很好。
Đúng他汉语说得很好。
Có tân ngữ thì phải lặp lại động từ hoặc đưa tân ngữ lên trước, không chen 得 vào sau tân ngữ.
⚠️ Lưu ý: Nhìn chữ đứng sau: danh từ thì 的, nhận xét thì 得, động từ thì 地.