但是 / 可是 (nhưng)

HSK 2 但是可是liên từ
Vế 1,但是/可是 + vế 2
Tóm tắt: 但是 và 可是 mở đầu vế tương phản, đứng trước chủ ngữ; khi vế trước có 虽然 thì tiếng Trung vẫn giữ nguyên 但是, không bỏ như tiếng Việt.

Giải thích

但是 và 可是 đều dịch là "nhưng", 可是 nhẹ và thân mật hơn, 但是 trang trọng hơn một chút. Trong hầu hết ngữ cảnh HSK 2, hai từ này thay thế được cho nhau.

Giống mọi liên từ khác, chúng đứng ở đầu vế thứ hai, trước chủ ngữ. Nếu bạn viết 我很累,我但是要工作 thì đã đặt nhầm nó vào vị trí phó từ.

Cái bẫy rõ nhất với người Việt là cặp 虽然…但是. Tiếng Việt cho phép nói "Tuy anh ấy rất bận, anh ấy vẫn đến" mà không cần chữ "nhưng". Tiếng Trung thì giữ đủ cặp: 虽然他很忙,但是他还是来了. Người Việt hay bỏ mất vế 但是 vì thấy tiếng Việt không cần.

Ngược lại, tiếng Trung không dùng chồng liên từ tương phản: đã có 但是 thì không thêm 可是 ngay sau.

Câu ví dụ

这个菜很好吃,但是太贵了。
Zhège cài hěn hǎochī, dànshì tài guì le.
Món này rất ngon, nhưng đắt quá.
我想去旅游,可是没有时间。
Wǒ xiǎng qù lǚyóu, kěshì méiyǒu shíjiān.
Tôi muốn đi du lịch, nhưng không có thời gian.
虽然他很忙,但是他还是来了。
Suīrán tā hěn máng, dànshì tā háishi lái le.
Tuy anh ấy rất bận nhưng anh ấy vẫn đến.

Lỗi người Việt hay mắc

Sai虽然他很忙,他还是来了。
Đúng虽然他很忙,但是他还是来了。

Tiếng Việt có thể bỏ chữ "nhưng" khi đã có "tuy", nên người Việt bỏ luôn 但是. Tiếng Trung giữ đủ cặp 虽然…但是.

Sai我很累,我但是要工作。
Đúng我很累,但是我要工作。

但是 là liên từ nên đứng trước chủ ngữ, không phải sau chủ ngữ như các phó từ 也, 都, 就.

⚠️ Lưu ý: Tiếng Trung thích liên từ đi thành cặp, đừng bỏ vế nào chỉ vì tiếng Việt bỏ được.

Từ vựng liên quan