反而 (ngược lại, trái lại)
Giải thích
反而 luôn cần một bối cảnh phía trước: theo lẽ thường thì phải ra kết quả X, nhưng thực tế lại ra kết quả ngược lại. Ví dụ uống thuốc rồi lẽ ra phải đỡ, nhưng lại nặng thêm, chính là chỗ dùng 反而.
Điểm hình thức người Việt hay sai là vị trí. 反而 là phó từ, bắt buộc đứng sau chủ ngữ và trước động từ, không được đứng đầu câu như "ngược lại" trong tiếng Việt. Muốn mở đầu câu bằng "ngược lại" thì phải dùng 相反, sau đó mới nói câu mới.
Nó rất hay đi cùng vế trước có phủ định: 不但不…反而…, 没有…反而… Đây là cấu trúc ra đề liên tục ở HSK 5-6, nên học luôn cả cụm.
Câu ví dụ
Lỗi người Việt hay mắc
反而 là phó từ, không được đứng đầu câu. Người Việt đặt lên đầu vì dịch từ "Ngược lại, bệnh anh ấy nặng hơn".
Đây chỉ là hai việc khác nhau, không phải kết quả trái với mong đợi. Trường hợp đối lập đơn thuần dùng 却 hoặc 而.
不但不/没…反而 đã là một cặp hoàn chỉnh, thêm 而且 vào là thừa.